Các bài trong khoáBài 7/38

38 bài

Domain 2: Claude Models, Prompting & Context Engineering·Task 2.1

Chọn model Claude theo đánh đổi

Bốn model Claude hiện nay khác nhau ra sao, bắt đầu với model nào, so model bằng chi phí trên mỗi việc xong, và khi nào dùng nhiều model cùng lúc.

  • 8 phút đọc
  • Đối chiếu docs 02/11/2026
  • 6 nguồn

Đọc xong bạn nắm được

  • Nắm vị trí của Fable, Opus, Sonnet và Haiku về năng lực, tốc độ và giá
  • Biết phải làm gì trước khi đem model ứng viên ra thử
  • So model bằng chi phí trên mỗi việc hoàn thành, không bằng giá mỗi token
  • Chỉnh effort trước khi đổi model, và chia lưu lượng cho nhiều model khi hợp lý

"Dùng model mạnh nhất cho chắc" và "dùng model rẻ nhất cho tiết kiệm" đều là cách chọn sai. Model đúng là model rẻ nhất mà vẫn đạt chất lượng bạn cần, và chỉ biết được bằng cách thử trên chính dữ liệu của mình.

Bài này giúp bạn trả lời: chọn model Claude cho một khối việc dựa vào đâu, bắt đầu từ model nào, và so sánh các model ra sao?

Ví dụ xuyên suốt: nền tảng học tiếng Anh trực tuyến

Một nền tảng học tiếng Anh có ba khối việc cần dùng Claude:

  1. Gắn nhãn lỗi cho khoảng 200.000 câu trả lời ngắn mỗi ngày (sai thì, sai giới từ, sai chính tả). Nhãn có sẵn danh sách, học viên chờ kết quả ngay trên màn hình.
  2. Gia sư hội thoại: học viên chat với gia sư ảo, cần trả lời tự nhiên và nhanh.
  3. Soạn lại giáo trình: một agent viết lại 40 bài học theo khung trình độ mới, đối chiếu chéo giữa các bài, chạy hàng giờ, mỗi tháng một lần.

Bốn model hiện nay

ModelDocs mô tảTốc độGiá input / output mỗi triệu token
Claude Fable 5.1Suy luận khó và việc agent chạy rất dàiChậm hơn$10 / $50
Claude Opus 5.5Agent viết code chạy lâu và công việc tri thức; điểm bắt đầu cho đa số khối việcVừa$4 / $20
Claude Sonnet 5.5Cân bằng tốt nhất giữa tốc độ và trí tuệNhanh$2 / $10
Claude Haiku 5.5Việc khối lượng lớn, nhạy về độ trễ như phân loại, trích xuất, định tuyếnNhanh nhất$0,10 / $0,50 (prompt tới 100.000 token; dài hơn thì giá cao hơn)

Cả bốn đều có context window 1 triệu token và đầu ra tối đa 128.000 token, nên kích thước context không phải là thứ phân biệt chúng. Muốn đọc giới hạn và khả năng của từng model bằng code, dùng Models API: nó trả về số token vào tối đa, số token ra tối đa và một object capabilities cho từng model.

Model nặng hơn không chỉ đắt hơn mà còn chậm hơn, và giới hạn tốc độ gọi API (rate limit) được tính riêng cho từng nhóm model. Ví dụ ở hạng tài khoản thấp nhất, Fable có hạn mức token đầu vào mỗi phút thấp hơn hẳn các model còn lại.

Bắt đầu từ đâu

Docs của Anthropic nêu bốn tiêu chí khi chọn: năng lực, tốc độ, chi phí, và mức effort (thông số điều chỉnh model bỏ bao nhiêu công cho mỗi câu trả lời). Docs đưa ra hai cách bắt đầu:

CáchLàm thế nàoHợp khi
Bắt đầu nhỏDùng Haiku 5.5, thử kỹ, chỉ nâng lên khi thấy thiếu năng lực cụ thểViệc khối lượng lớn, kết quả kiểm được
Bắt đầu mạnhDùng Opus 5.5, tối ưu prompt, rồi hạ effort hoặc chuyển xuống model rẻ hơn dầnViệc phức tạp; docs nói đa số khối việc bắt đầu với Opus 5.5

Dù chọn cách nào, docs nhấn mạnh có một bộ đánh giá tốt là bước quan trọng nhất: tạo bộ test cho đúng việc của bạn, chạy với prompt và dữ liệu thật, so độ chính xác, chất lượng và các ca khó, rồi cân với chi phí.

Thứ tự công việc vì vậy là:

  1. Xác định mức chất lượng, độ trễ chấp nhận được và khối lượng dự kiến.
  2. Chọn model ứng viên theo yêu cầu và năng lực đã biết.
  3. Chạy thử trên mẫu dữ liệu đại diện.
  4. Chọn model nhẹ nhất đạt chuẩn một cách ổn định.
  5. Thử lại khi có phiên bản model mới.

Docs còn có một câu đáng nhớ: chỉnh effort thường là đòn bẩy tốt hơn đổi model. Trước khi chuyển sang model khác, thử hạ hoặc nâng effort trên model đang dùng.

So bằng chi phí trên mỗi việc xong

Docs về tối ưu chi phí khuyên so model theo chi phí trên mỗi việc hoàn thành, không theo giá mỗi token. Một model rẻ mỗi token nhưng làm hỏng nhiều thì bạn vẫn trả tiền cho lần hỏng và lần làm lại. Docs khuyên so trên phần khó nhất của khối việc, khoảng một phần mười việc khó nhất, vì hoá đơn thường do những việc model rẻ làm hỏng quyết định.

Áp vào ví dụ:

  • Gắn nhãn lỗi: nhãn có sẵn, cần ít suy luận, khối lượng lớn, học viên đang chờ. Haiku 5.5 hợp nhất. Kết quả kiểm được nên dễ đo tỉ lệ đúng.
  • Gia sư hội thoại: cần trả lời tự nhiên và nhanh. Sonnet 5.5 là ứng viên hợp lý để thử trước.
  • Soạn lại giáo trình: việc agent dài, đối chiếu nhiều bài, mỗi tháng một lần nên không ai chờ. Opus 5.5 là điểm bắt đầu; nếu chạy ở effort cao nhất mà vẫn chưa đạt thì mới cân nhắc Fable 5.1.
  1. Khối lượng lớn, nhãn rõ, cần trả lời ngay?Thử Haiku 5.5 trước
  2. Việc hằng ngày cần cân tốc độ và chất lượng?Thử Sonnet 5.5
  3. Việc agent dài hoặc phức tạp?Bắt đầu với Opus 5.5
  4. Opus 5.5 ở effort cao nhất vẫn chưa đạt?Thử Fable 5.1
  5. Còn lạiChưa chắc: bắt đầu với Opus 5.5, có bộ test rồi mới hạ effort hoặc đổi model rẻ hơn

Dùng nhiều model trong một hệ thống

Không bắt buộc một model cho cả hệ thống. Docs mô tả các cách ghép model rẻ với model mạnh để phần lớn token tính theo giá thấp:

  • Định tuyến theo độ khó: câu thường đi vào model nhẹ, câu cần năng lực cao mới vào model nặng.
  • Advisor: model rẻ chạy vòng lặp và hỏi ý model mạnh khi cần lập kế hoạch hay sửa hướng.
  • Orchestrator: model mạnh điều phối, giao phần việc khối lượng lớn cho các model rẻ hơn.

Trong ví dụ, gia sư hội thoại có thể để câu hỏi đơn giản ("từ này nghĩa là gì") cho Haiku 5.5 và câu cần giải thích ngữ pháp dài cho Sonnet 5.5. Định tuyến như vậy giảm cả chi phí lẫn độ trễ cho phần lớn lưu lượng.

Nguồn

  1. Exam Guide CCAR-P v1.0, Domain 2(mở tab mới)
  2. Models overview (Claude Docs)(mở tab mới)
  3. Choosing the right model (Claude Docs)(mở tab mới)
  4. Optimizing for cost and intelligence (Claude Docs)(mở tab mới)
  5. Rate limits (Claude Docs)(mở tab mới)
  6. Fast mode (Claude Docs)(mở tab mới)

Nắm rồi thì thử sức với đề

Xem khoá luyện thi
Chọn model Claude theo đánh đổi · Anthropic Exam Pro